5 lý do gọi trà hoa vàng là “thần dược của thiên nhiên” (16-08-2015)


 5 lý do gọi trà hoa vàng là “thần dược của thiên nhiên”

Trà hoa vàng có hoa màu vàng kim đặc trưng, màu sắc rực rỡ, dường như bôi một lớp sáp mỏng bên trên, óng ánh mà mềm mượt, có cảm giác như bán trong suốt. Bao hàm hơn 400 thành phần hoá học, không có độc và tác dụng phụ, trong đó phải kể tới Saponin, các hợp chất phenolic, amio acid, axit folic, protein, vitamin B1, B2, C, E, axit béo,.. cùng rất nhiều các thành phần dinh dưỡng tự nhiên; trà hoa vàng có vài chục loại axitamin, rất nhiều các nguyên tố vi lượng Ge, Se, Mo, Zn, V,.. có tác dụng bảo vệ sức khoẻ, nâng cao sức đề kháng, ngăn ngừa bệnh tật.

 

1, Thần dược duy trì tuổi xuân

Trà hoa vàng chứa nhiều các nguyên tố vi lượng cực kỳ quan trọng đối với sức khoẻ con người: Selen, Germanium, Molypden, Vanadium, vitamin C và E, ngoài ra trong trà còn có hàm lượng đáng kể các hợp chất Polysaccharide, Polyphenol, Saponin, Flavonoids,.. có khả năng chống oxy hoá, ức chế gốc tự do, cân bằng chuyển hoá.

Hoạt chất EGCG trong trà được cho là có tác dụng mạnh hơn gấp 200 lần so với Vitamin E, một nghiên cứu khác về trà cho thấy dùng trà mang lại hiệu quả gần 90% trong việc ngăn ngừa sạm da – một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ung thư da. Theo y học cổ truyền Trung Quốc, Trà hoa vàng có tác dụng dưỡng sinh, làm chậm quá trình lão hóa, cho làn da trắng sáng. Tại một số nơi ở Trung quốc, Trà hoa vàng được trồng trong những khu sinh thái, nơi nghỉ dưỡng, gần đây các nhà khoa học Nhật Bản vừa phát hiện hoạt chất epigallocatechin gallate (EGCG) trong trà xanh có tác dụng ngăn HIV bám vào tế bào miễn dịch khoẻ mạnh.

 

2, Dược liệu cho trái tim khỏe

Nhóm các hợp chất poly phenol và polysaccharid trong Trà hoa vàng được chứng minh là có tác dụng trong việc điều hoà mỡ máu, ức chế sự tổng hợp các acid béo trong cơ thể. Các hợp chất trong Trà hoa vàng còn có khả năng ổn định huyết áp, hạn chế huyết khối, giúp cải thiện tuần hoàn máu, ngăn ngừa các bệnh tim mạch, cũng như ổn định khả năng miễn dịch của cơ thể. Trong lá trà có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (cholesterol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt), giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu trong khi nếu dùng các loại thuốc tây dược khác thì mức độ giảm chỉ là 33.2%.

Tiến sĩ John Welsburger – thành viên cao cấp của tổ chức sức khoẻ Hoa kỳ phát biểu: “Dường như những thành phần chứa trong trà có khả năng làm giảm nguy cơ một số bệnh mãn tính như đột quỵ, truỵ tim và ung thư”.Theo một số nghiên cứu ở Hà Lan, những người uống 4-5 tách chè đen hàng ngày giảm 70% nguy cơ đột quỵ so với những người chỉ dùng 2 tách hoặc ít hơn. Đó chính là do chất flavonoid có trong chè đen đã ngăn ngừa sự vón cục nguy hiểm của tiểu huyết cầu trong máu – nguyên nhân dẫn đến hầu hết các chứng đột quỵ và các cơn đau tim. Loại chè đen nhắc đến trên đây là một thứ đã lên men trong quá trình (chế biến từ trà hoa vàng)

Quercetin

 

 

 

 

3, Tốt cho bệnh tiểu đường

Lá trà mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, trong đó có tác dụng điều hòa lượng đường trong máu, giúp cải thiện tình trạng bệnh đái tháo đường. Các hợp chất chống oxy hoá có trong trà có tác dụng dọn dẹp gốc tự do, giúp cải thiện các biến chứng của tiểu đường. Ngoài ra trong trà có các hợp chất có tác dụng cân bằng các chuyển hoá trong cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất ở mức vừa phải, đốt cháy chất béo ở cả đối tượng bị tiểu đường và không bị tiểu đường. Rõ ràng đây là thức uống tốt cho người bị tiểu đường, chi phí hợp lý đối với hiệu quả đem lại.

 

 

 

 

4, Giải độc gan hiệu quả

Khi tế bào gan đã bị tổn thương, các chức năng gan không hoạt động được bình thường sẽ tác động nguy hại đến sức khỏe. Nếu các chất độc không được đào thải ra ngoài nhanh chóng sẽ tích lại trong cơ thể và gây ngộ độc. Do vậy phòng bệnh là cách tốt nhất cho những người thường xuyên tiếp xúc với các nguy cơ cao gây bệnh cho gan. Ngoài một số hoa quả như chanh, bưởi cam, táo được khuyên dùng để có lợi cho gan thì các loại thức uống có nguồn gốc từ thiên nhiên như Trà hoa vàng được đặc biệt chú ý bởi chất oxy hóa tuyệt vời trong trà là một thành phần không thể thiếu trong việc loại bỏ các cholesterol có hại trong gan cũng như trong cơ thể. Không chỉ vậy, trà hoa vàng còn chứa hợp chất flavonoid có tác dụng ngăn ngừa không cho virus viêm gan C thâm nhập vào gan.

 

5, Đặc trị ung thư

Trong cuốn “Các loài trà của vườn quốc gia Tam Đảo” có nhắc tới hoa Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối U đến 33,8%. Trong khi y học cho rằng chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, trà hoa vàng có thể thay phương pháp xạ trị trong điều trị ung thư như ung thư tuyến bạch huyết, ung thư máu,ung thư gan.ung thư trưc tràng ngay cả ở giai đoạn cuối, đem lại kết quả hết sức khả quan.

Ngoài ra, sử dụng trà hoa vàng có thể chữa được chứng táo bón, một số bệnh về đường hô hấp, bài tiết (chứng tiểu khó và vàng), chứng khí thũng hay co thắt dạ con ở phụ nữ đều có thể sử dụng thức uống này như một phương pháp chữa trị đơn giản lại sớm mang lại kết quả.

Với hơn 400 dưỡng chất và hợp chất có lợi cho sức khoẻ, hoa trà vàng là một trong những loài thực vật tự nhiên giàu dưỡng chất nhất có tác dụng lớn lao đối với cơ thể mỗi người.

 

Tài liệu tham khảo

1. Trần Ninh (2001), Kết quả nghiên cứu phân loại các loài Trà hoa vàng của Việt Nam, Báo cáo tại Hội thảo các loài Trà hoa vàng ở Việt Nam.

2. Albert L. Lehninger, David L. Nelson, Michael M. Cox (1993), Principles of biochemistry, Worth publishers.

3. David V. Jobes, Lconard B. Thien (1997), "A Conserved Motif in the 5,8S ribosomal RNA gene is a useful diagnostic marker for plant internal transcribed spacer (ITS) sequences", Plant moleculer biology reporter, (15), pp. 326 - 331.

4. Pauline Nicholson (1997), "extraction of DNA from plant system", Life science news, (23), pp 12 - 14.

5. Sambrook J. , Fritsch E. F., Maniatis T. (1989), Molecular cloning, Cold Spring Harbor Laboratory Press.

6. Samuel S. M. Sun (1994), Methods in plant moleculer biology and agricultural biotechnology, Asian Vegetable Research and Developement Center, Taiwan.